Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012

Three Things In Life



Three things in life that, 
once gone, never come back:
(Ba điều trong đời một khi đã đi qua không thể lấy lại được:)


  1. Time (Thời gian)
  2. Words  (Lời nói)
  3. Opportunity (Cơ hội)



Three things in life that 

may never be lost:
(Ba điều trong đời không được đánh mất:)


  1. Peace (Sự thanh thản)
  2. Hope  (Hy vọng)
  3. Honesty. (Lòng trung trực)


Three things in life that 

are most valuable:
(Ba thứ có giá trị nhất trong đời:)


  1. Love (Tình yêu)
  2. Self-confidence  (Lòng tự tin)
  3. Friends (Bạn bè)


Three things in life that 

are never certain:
(Ba thứ trong đời không bao giờ bền vững được:)


  1. Dreams (Giấc mơ)
  2. Success  (Thành công)
  3. Fortune (Tài sản)


Three things that make a man:

(Ba điều làm nên một con người:)


  1. Hard work (Siêng năng)
  2. Sincerity  (Chân thành)
  3. Commitment (Thành đạt)


Three things in life that 

can destroy a man:
(Ba điều trong đời làm hỏng một con người:)


  1. Wine (Rượu)
  2. Pride  (Lòng tự cao)
  3. Anger (Sự giận dữ)



Nguồn: Lụm Từ Net

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

Ăn không biết chán là dấu hiệu của bệnh tiểu đường

Gần đâycó khi nào bạn cảm thấy luôn có cảm giác đói, vớ được cái gì là ăn ngấu ăn nghiến. Tình trạng trên có phải là bệnh tiểu đường không? Bạn có cần đi khám không? Khám chuyên khoa nào?
tieu-duong- an-socola

Các rối loạn trong thói quen ăn uống biểu lộ dưới nhiều dạng: Chán ăn tâm thần, ăn quá nhiều (ăn không biết chán), ăn lai rai (nhấm nháp suốt ngày với khối lượng ít), ăn vô độ (bản thân người bệnh không kìm nén và kiểm soát được, thường gặp trong bệnh tâm thần). Ngoài hiện tượng ăn nhiều bạn nêu trong thư, không rõ ở bạn còn triệu chứng kết hợp gì không và tình trạng sức khoẻ của bạn hiện tại ra sao? Điều bạn cần biết là các rối loạn thói quen ăn uống trên bắt nguồn từ các nguyên nhân khác nhau (bệnh lý thực thể, bệnh tâm căn...) do đó cách chữa cũng khác nhau. Vì vậy, bạn nên tổng hợp tình hình diễn biến bệnh của mình để phản ảnh đầy đủ với bác sĩ thăm khám. Tuy nhiên, hiện tượng ăn quá nhiều của bạn là một triệu chứng với biểu hiện đặc trưng là cảm giác đói quá mức, ăn không biết chán... Trước hết, đây có thể là một trong các triệu chứng của bệnh tiểu đường hoặc giai đoạn sớm của bệnh tiểu đường. Nguyên nhân của triệu chứng này là do cơ thể người bệnh không hấp thụ được đủ lượng glucose cần thiết. Có nghĩa là bệnh nhân bị chất cacbon hydrat. Các triệu chứng báo trước của bệnh tiểu đường là hiện tượng mệt mỏi, khát nhiều, tiểu nhiều và ăn nhiều. Nếu bạn có các triệu chứng kể trên thì cần trao đổi với bác sĩ. Các nguyên nhân khác gây chứng ăn nhiều còn có thể xuất hiện trong bệnh trầm cảm (chủ yếu là ăn lai rai, ăn vặt) hoặc cũng gặp ở bệnh nhân bị tiêu chảy mạn tính, do bệnh không đồng hóa được các thực phẩm ăn vào... Tốt nhất bạn nên thăm khám chuyên khoa nội tiết để trước hết tầm soát bệnh tiểu đường. Tùy thuộc vào các kết quả thăm khám, bác sĩ sẽ có các định hướng thăm khám tiếp theo (như khám chuyên khoa Tâm thần kinh hoặc tiêu hóa...).

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2012

Món ngon hàng ngày cho người bị tiểu đường -part3

sup dau do cho nguoi tieu duong
sup dau do

Súp đậu lăng đỏ và hạt mê thi cho người bệnh tiểu đường
Ngoài những cách sử dụng thông thường, hạt Methi có thể được chế biến thành các món ăn rất ngon miệng. Chỉ cần mất chút ít thời gian chế biến, các bạn sẽ có được những món ăn lạ, ngon và vẫn đảm bảo tính năng chữa bệnh của hạt Methi.

Thành phần:

- 1 muỗng dầu Oliu loại tốt.
- 1 củ hành tây, xắt nhỏ
- 1 muỗng canh ngọt, gừng băm.
- 2 tép tỏi, nghiền nát.
- 1 cốc đậu lăng đỏ khô.
- 1 cốc bí đỏ.
- 1 / 2 chén rau mùi cắt nhỏ
- 2 cốc nước
- 1 / 2 chén nước cốt dừa
- 2 muỗng cà chua bột.
- 1 / 2 thìa cà phê hạt Methi
- 1 muỗng cà phê hỗn hợp gia vị cà ri
- Hạt tiêu
Cách làm

Đun nóng dầu trong một chảo lớn và rán hành tây, gừng, tỏi, hạt Methi.Trộn đậu lăng, bí đỏ và rau mùi. Thêm nước lã, nước cốt dừa, sốt cà chua nghiền và các thành phần còn lại.Đun sôi nhỏ lửa trong 30 phút cho đến khi đậu lăng và bí đỏ mềm.Ăn nóng với bánh mì hay cơm trắng.

 chúc các bạn ngon miệng!

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

Chữa tiểu đường bằng bài thuốc Lục vị thang

 >> Uống mật ong hàng ngày có bị tiểu đường?
>> Bệnh nhân tiểu đường không nên dùng đồ ăn nấu quá chín.

Hầu hết các sách y học cổ truyền Việt Nam và các sách Đông y của nhiều tỉnh Trung Quốc khi nói về việc chữa chứng tiêu khát ( tiểu đường) đều đề cập đến bài thuốc “Lục vị thang gia giảm”. Có thể dùng bài thuốc này để hỗ trợ cho Tây y.


Bài thuốc gồm các vị sau: Sinh địa, thiên hoa phấn, sa sâm, sơn thù, bạch linh, mạch môn, đơn bì, trạch tả mỗi thứ 12 g, cát căn, kỷ tử, sinh sơn dược, sinh bạch thược mỗi thứ 16 g. Sắc uống ngày một thang.
Nếu người bệnh cảm thấy nóng nhiều gia thêm tri mẫu 12 g, thạch lộc 20 g. Nếu người bệnh khát nước, uống nhiều, gia thêm sinh thạch cao 40 g, hoàng cầm 12 g hoặc chỉ cần tăng liều cát căn 20 g, sa sâm 20 g. Nếu người bệnh ăn nhiều, mau đói, gầy ốm sụt cân gia hoàng liên 8 g. Nếu táo bón thì bỏ vị sơn thù, sơn dược, gia thêm đại hoàng 10-12 g, mang tiêu 10-12 g, huyền sâm 12 g. Hết táo bón thì ngưng dùng đại hoàng, mang tiêu, duy trì dùng huyền sâm. Nếu người bệnh tiểu nhiều thì gia thêm ích trí nhân 12 g, tang phiêu tiêu 12 g, ngũ vị tử 6 g, sơn dược – sơn thù nhục dùng tăng liều.
Nếu thận âm và dương đều hư nhược, càng ăn uống nhiều càng gầy ốm, chân tay lạnh, tinh thần mệt mỏi, đau lưng, ù tai, tiểu đêm nhiều lần… thì thêm kim anh tử 16 g, phụ tử chế 10 g, thục địa 16 g, nhục quế 4-6 g, ngũ vị tử 6 g, thỏ ty tử 12 g. Người bệnh thường đi ngoài phân lỏng sệt, không thành khuôn, đầy bụng, mệt mỏi vô lực thì gia thêm bạch truật (sao vàng) 16 g, bỏ vị kỷ tử.
Nếu có vết thương khó lành thì gia thêm các vị như: kim ngân hoa 20 g, cúc hoa 20 g, bồ công anh 20 g, tử hoa địa đinh (địa đinh) 20 g… Người bệnh được khuyên dùng các loại đậu (xanh, đen, đậu nành, đậu phụng, đậu trắng…); ăn rau tươi, trái cây chua; ăn cá, thịt nạc, sữa không béo, lách heo (có thể tán thành bột uống). Thường xuyên luyện tập dưỡng sinh hoặc đi bách bộ.
Mục tiêu của y học cổ truyền trong điều trị bệnh tiểu đường (tiêu khát) là làm bớt các triệu chứng khó chịu, nâng thể trạng cho người bệnh và ngăn ngừa những biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra. Tác dụng hạ đường huyết của các vị thuốc chỉ có giới hạn, vì vậy bệnh nhân kết hợp điều trị bằng cả hai loại thuốc Đông và Tây y. Tân dược có thể dùng giảm liều so với liều cũ (tìm một liều thấp tối ưu), hai thứ thuốc Đông và tân dược được uống cách nhau 1-2 tiếng đồng hồ trong ngày. Trước khi dùng thuốc, bệnh nhân phải hỏi bác sĩ và lương y để gia giảm các vị thuốc phù hợp với bệnh của mình và phối hợp đúng cách với tân dược.

Sản phẩm từ sữa giúp phòng bệnh tiểu đường

>> 9 loại thực phẩm hàng đầu cho người bị tiểu đường
 >> Món ăn thuốc trị tiểu đường
Một nghiên cứu cho biết, hợp chất axit trans-palmitoteic được tìm thấy trong sữa, phô mai, sữa chua và bơ giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tới 60%.

Các nhà nghiên cứu thuộc trường Y tế Cộng đồng Havard, Mỹ đã tìm thấy một hợp chất có thể giúp chống lại tiểu đường tuýp 2, căn bệnh mà hơn 2,3 triệu người Anh mắc phải.
Nghiên cứu mới nhất công bố trên tạp chí Y học quốc gia được thực hiện trên 3.700 người. Những tình nguyện viên này có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao như những người lớn tuổi.
Họ đã được theo dõi các chỉ số về đường huyết, insulin và nồng độ axit béo, bao gồm cả axit trans-palmitoleic trong máu.
Kết quả cho thấy, ở những người có nồng độ axit trans-palmitoleic cao nhất, nguy cơ phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 giảm tới 60% so với những người có mức thấp nhất.
Trưởng nhóm nghiên cứu Dariush Mozaffarian, cho biết các nghiên cứu trước đó chưa chỉ ra nguyên nhân vì sao sữa giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Đây là nghiên cứu đầu tiên chỉ ra được một chất cụ thể có tác dụng ngừa bệnh.

YOGA cho người bệnh tiểu đường

>>Số mắc đái tháo đường tăng vọt vì bữa ăn thừa thịt
>>Những Thói Quen Tốt Đối Với Người Bệnh Tiểu Đường


Bệnh tiểu đường và lối sống tĩnh tại ít vận động
Yoga là một khoa học cổ xưa của Ấn Độ có muc đích dẫn dắt con người đi đến sự hoà hợp. Hoà hợp giữa thể xác, cảm xúc và trí tuệ, hoà hợp giữa con người và vũ trụ. Bên cạnh những triết lý sâu xa về vũ trụ và nhân sinh Yoga cũng đã xây dựng nên hàng ngàn tư thế tập luyện thân thể.
Ngoài những tác động đến những cơ, khớp và nội tạng, mỗi tư thế còn ảnh hưởng đến những tuyến nội tiết hoặc những luân xa nhất định để giúp người tập điều hoà thân và tâm hoặc để chữa bệnh trong những trường hợp khác nhau. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu một số tư thế yoga truyền thống có tác dụng tốt đối với bệnh tiểu đường.
Bệnh tiểu đường là một hình thức rối loạn chuyển hoá đường trong cơ thể khiến lượng đường trong máu tăng cao và một phần khác bị đào thải ra ngoài qua nước tiểu. Do đó người bệnh thường ăn nhiều uống nhiều, đi tiểu nhiều và dễ mệt mỏi. Bệnh thuộc phạm vi chứng tiêu khát của y học cổ truyền. Chứng tiêu khát có liên quan đến việc rối loạn khí hoá của nhiều tạng phủ khác nhau nhưng quan trọng và trực tiếp nhất là Tỳ Vị. Trong những năm gần đây mặc dù kinh tế phát triển, đời sống vật chất phong phú nhưng bệnh tiểu đường type II ở những người trên 40 tuổi lại có chiều hướng gia tăng. Bên cạnh những yếu tố về môi trường, về thực phẩm công nghiệp thì lối sống tỉnh tại, ít vận động nhưng lại nhiều áp lực tâm lý là nguyên nhân chính đã dẫn đến sự gia tăng nầy. Qua nghiên cứu những đối tượng nam, những nhà khoa học cho biết nguy cơ mắc bệnh tiểu đường ở những người có tập thể dục đều đặn 5 lần mỗi tuần giảm chỉ còn phân nữa so với với nhóm người chỉ tập một lần mỗi tuần. Rèn luyện thân thể, vận động cơ bắp để giúp khí huyết lưu thông là điều kiện cơ bản để giữ gìn sức khoẻ. Riêng đối với bệnh tiểu đường sự vận động còn có ý nghĩa đặc biệt. Đông y cho rằng “Tỳ chủ hậu thiên” và “Tỳ chủ tứ chi và cơ nhục”. Việc chuyển hoá thức ăn và việc vận động cơ bắp có liên quan với nhau và liên quan trực tiếp với việc khí hoá của Tỳ Vị. Phải năng vận động cơ bắp thì khí hoá của Tỳ Vị mới được bảo đảm và việc chuyển hoá thức ăn bao gồm chuyển hoá đường mới được cải thiện. Do đó một khó khăn trong điều trị bệnh tiểu đường là yêu cầu phải tăng cường vận động. Một số người đã khỏi bệnh, đã rời bỏ thuốc cho biết ngoài việc dinh dưỡng hợp lý họ còn phải tuân thủ một chế độ vận động cơ thể hàng giờ hơn mỗi ngày và vẫn luôn phải duy trì chế độ nầy. Tiếc thay điều nầy không phải ai cũng thực hành được. Có thể do quá bận rộn công việc, do tuổi cao sức yếu hoặc do những yếu tố khác của sức khoẻ không cho phép. Trong những trường hợp nầy người bệnh cần có một phương thức tập luyện không tốn nhiều thời gian nhưng chuyên biệt hơn cho bệnh tiểu đường. Một số tư thế Yoga có thể đáp ứng nhu cầu nầy.
Một số tư thế Yoga truyền thống có tác dụng tốt với bệnh tiểu đường
Thế đầu tựa gối
Ngồi thẳng lưng. Hai chân duỗi thẳng ra phía trước. Gập đầu gối phải lại và dùng 2 bàn tay kéo bàn chân phải vào sát đáy chậu, đầu gối phải nằm sát mặt sàn. Chân trái vẫn duỗi thẳng, hai cánh tay giơ thẳng lên cao. Thở ra trong khi từ từ gập người lại, cúi xuống, vươn vai và hai tay ra phía trước, hai bàn tay ôm lấy cổ chân hoặc bàn chân. Trong khi giữ yên tư thế nầy một vài giây cố ép người gần xuống đùi trái, đầu tựa lên đầu gối trái, chân trái vẫn thẳng, đùi phải và đầu gối phải vẫn giữ sát mặt sàn. Hít vào trong khi từ từ nhấc đầu và thân lên, duỗi chân phải ra và trở lại tư thế ngồi thẳng lưng, hai chân duỗi thẳng ra phía trước như lúc ban đầu. Hít thở sâu một vài hơi trước khi đổi chân và lập lại động tác.
Thế căng giãn lưng
Ngồi thẳng lưng. Hai chân duỗi thẳng. Hai bàn chân nằm sát cạnh nhau. Thở ra trong khi từ từ khom người cúi xuống cho tới khi đầu chạm gối. hai đàu gối vẫn thẳng, hai đùi vẫn ép sát xuống sàn, hai cánh tay đưa thẳng ra tối đa và cố chạm vào bàn chân. Có thể dùng 2 bàn tay nắm lấy 2 cổ chân hoặc đan chéo 2 bàn tay ôm lấy 2 bàn chân để dễ gập người lại. Thời gian đầu có thể dùng một chiếc gối tựa trên 2 đùi để khi ép người xuống dễ giữ thẳng được 2 khuỷu chân. Giữ yên tư thế nầy vài giây. Hít vào, nhấc đầu và thân người lên, trở về tư thế ban đầu.
Thế rắn hổ mang
Nằm sấp trên sàn. Hai bàn tay úp xuống ở khoảng 2 vai, các ngón tay hướng lên phía trên. Hít vào, sức nặng tựa lên 2 bàn tay, từ từ nâng đầu và ngực lên, đầu ngữa lên trần nhà, cằm đưa ra phía trước. Trong tư thế nầy phần cơ thể từ rốn tới chân luôn luôn chạm mặt sàn. Khi đã hít vào tối đa cũng là lúc 2 khuỷu tay thẳng lên. Giữ nguyên vị thế nầy vài giây. Thở ra, trong khi từ từ buông lõng 2 cánh tay, buông lõng toàn thân, trở lại vị trí ban đầu.
Thế vặn cột sống
Ngồi trên sàn, hai chân thẳng ra. Gấp chân phải lại, đặt gót chân áp sát mông trái. Gấp chân trái lại, đặt bàn chân trái phía ngoài đầu gối phải. Đầu gối trái sát dưới nách phải. Hít vào trong khi duỗi tay phải ra để nắm được cổ chân trái hoặc các ngón chân trái. Từ từ quay mạnh tay trái về phía sau lưng đồng thời thân mình quay ¼ vòng về bên trái, bàn tay trái tựa xuống sàn. Giữ nguyên vị thế nầy vài giây. Thở ra và từ từ buông lõng toàn thân trở về vị thế ban đầu. Tập lại tư thế nầy lần nữa với tay chân và chiều vặn ngược lại.
Cơ chế tác dụng của các tư thế
Tăng cường lưu thông khí huyết để gia tăng chức năng khí hoá của Tỳ Vị
Những động tác vặn người, cúi gập hoặc kéo giãn của Yoga được thực hành chậm rãi và mềm dẽo không tốn nhiều năng lượng, không tạo áp lực cho tim nhưng lại có thể hoá giải xơ cứng và tăng cường lưu thông khí huyết đến những nơi mà sinh hoạt hằng ngày không đủ tác động tới. Những hơi thở sâu và những động tác kéo giãn quanh bụng có tác dụng xoa bóp và kích thích lưu thông khí huyết đến các tổ chức ở vùng bụng như gan, mật, lá lách, dạ dày, tuỵ tạng. Nằm ngay dưới dạ dày, tuỵ tạng là một tuyến nội tiết có nhiệm vụ xuất tiết chất insulin để điều tiết lượng đường trong máu. Như vậy, thông qua việc tăng cường khí huyết những tư thế trên không những có thể làm gia tăng chức năng khí hoá của tỳ vị mà còn tác động trực tiếp lên tuyến tuỵ để điều tiết việc xuất tiết insulin qua đó điều tiết lượng đường trong máu. Tác động trên những tuyến nội tiết và qua việc xuất tiết nội tiết gây ảnh hưởng đến toàn thân là một trong những nét đặc thù của Yoga.
Tăng cường sinh lực cho việc chuyển hoá cơ bản
Những động tác kéo giãn cột sống theo các hướng khác nhau quanh thắt lưng có tác dụng giải toả những ứ trệ chung quanh những đốt sống thắt lưng và hoạt hoá luân xa 3. Luân xa 3 nằm dưới đốt sống thắt lưng thứ hai. Luân xa 3 là trung tâm năng lượng cung cấp sinh lực cho các chức năng sinh dục, tiêu hoá và bài tiết. Trong số 7 luân xa chính của cơ thể luân xa 3 chủ về sức khoẻ vật chất và cũng là luân xa có quan hệ trực tiếp đến việc chuyển hoá chất đường.
Điều hoà cảm xúc và giải toả căng thẳng tâm lý
Ngoài việc thúc đẩy lưu thông khí huyết, kích thích và làm tươi trẻ hệ thần kinh dọc theo tuỷ sống những động tác căng giãn tối đa còn có tác dụng giãn cơ nhất là các cơ trơn tạo nên thành của các cơ quan nội tạng. Do tương tác thần kinh & cơ bắp việc thư giãn nầy sẽ tác động trở lại làm điều hoà thần kinh giao cảm. Việc điều hoà hệ thống thần kinh ngoài việc điều hoà cảm xúc, giải toả những căng thẳng tâm lý còn có tác dụng điều hoà nội tiết, nội tạng và tăng cường khả năng miển nhiểm của cơ thể.
Lưu ý
Nên tập Yoga trong lúc bụng trống để không ảnh hưởng đến việc tiêu hoá và dễ thực hành các động tác cúi, ngữa.
Mỗi ngày có thể tập 1 hoặc 2 lần. Mỗi tư thế có thể tập một hoặc nhiều lần trong mỗi buổi tập. Giữa mỗi tư thế nên thở sâu một vài hơi, kế tiếp thở đều hoà trước khi tập đến tư thế khác. Điều quan trọng của hơi thở sâu không phải là cố hít vào nhiều hơi mà là thở ra chậm, từ từ và cố ép sát bụng dưới khi thở ra.
Thực hành các động tác phải chậm và từ từ để tránh bị sai khớp, trặt gân hoặc những tổn thương khác. Độ “căng giãn” hoặc “ép sát” sẽ được phát triển dần qua thời gian. Không nên quá cố gắng trong những lần đâu.
Những động tác kéo căng và những hơi thở sâu có khả năng kích hoạt một số luân xa của cơ thể. Do đó liền sau mỗi buổi tập nên thực hành thư giãn từ10 đến 15 phút để phát huy việc thu nhận và phân phối năng lượng thông qua các luân xa cho việc chữa bệnh và tăng cường sức khoẻ. Nằm xuống thoải mái trên sàn nhà hoặc trên ván qua một lớp chăn mỏng. Hai tay để dọc 2 bên thân. Hít thở đều hoà. Thì thở ra chậm và dài hơn thì thở vào. Tập trung tư tưởng quan sát hơi thở vào và ra. Trong thì thở ra có thể nhẩm trong tâm ý nghỉ “buông lõng toàn thân”.
Những phụ nữ có thai không nên tập các tư thế trong bài.
Những động tác Yoga không có giá trị thay thế các loại thuốc đang sử dụng. Việc gia giảm liều lượng thuốc tuỳ theo diễn tiến của bệnh phải tuân theo sự chỉ dẫn của Bác sĩ điều trị./.

Tác hại của thuốc lá trên bệnh nhân tiểu đường

Cứ 1 giây có 1 người chết vì nhiễm bệnh liên quan đến thuốc lá. Thuốc lá được xem như một đại dịch của thế kỷ, nó gây nên cái chết nhiều hơn cả dịch hạch và AIDS. Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 439.000 người chết vì thuốc lá, hoặc cứ 5 người chết thì trong đó có 1 người liên quan đến thuốc lá, song vẫn còn rất nhiều người hút thuốc lá.

Tại sao phải cấm hút thuốc nơi công sở?
Những người xung quanh khi hít phải khói thuốc cũng bị ảnh hưởng sức khỏe như người hút. Những người này được gọi là hút thuốc thụ động hay nói khác đi là bị hút thuốc. Đối với trẻ nhỏ, cơ thể chúng nhạy cảm với nicotin trong khói thuốc gấp 2 lần người lớn, nên rất nguy hiểm cho những trẻ có cha mẹ nghiện thuốc.
Tại sao lại nghiện thuốc lá?
Khi hút thuốc, chất nicotin từ thuốc lá thấm vào máu và làm thay đổi các quá trình sinh hóa, chuyển hóa, dược lý, tâm lý… trong khi đó, bản thân nicotin là một chất độc gây nghiện. Khi nồng độ nicotin trong máu người hút thuốc lá giảm thấp, nó sẽ bức bách người hút thuốc sử dụng thuốc, dẫn đến tình trạng lệ thuộc vào thuốc lá, gọi là nghiện. Hút thuốc lúc đầu chỉ là dăm ba điếu cho vui nhưng về sau lại là gánh nặng khó bỏ được.

Người đái tháo đường nếu hút thuốc sẽ làm chậm hấp thu insulin
Tác hại của thuốc trên bệnh nhân tiểu đường?
Thuốc lá là nguyên nhân gây nên bệnh ung thư phổi, viêm phế quản mãn, bệnh lý tim mạch (đột quỵ, tai biến mạch máu não, thiếu máu cơ tim…) và nhiều bệnh khác. Ở những bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) người ta thấy ảnh hưởng của thuốc lá còn dữ dội hơn nữa, tỉ lệ tử vong và bệnh lý tim mạch cao gấp 2 lần so với người không hút thuốc. Các chuyên gia tim mạch coi thuốc lá và ĐTĐ là 2 trong số những tác nhân dẫn đến bệnh lý về tim mạch. Khi hút thuốc, người hút đưa một lượng carbon dioxin từ khói thuốc vào cơ thể, chất này ngăn cản oxy kết hợp với hồng cầu. Để bù đắp lại, cơ thể tăng sản xuất hồng cầu và đó chính là một trong những tác nhân làm tăng biến chứng suy thận, mù mắt, hoại tử bàn chân, đột quỵ ở bệnh nhân ĐTĐ.
Cũng từ khói thuốc, nicotin vào máu gây co thắt những mạch máu nhỏ, làm chậm sự hấp thu của insulin khi tiêm, đưa đến khó kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân sử dụng insulin. Ngoài ra, nó còn làm tăng tình trạng đề kháng insulin của cơ thể. Theo thống kê, rủi ro mắc bệnh ĐTĐ týp 2 cao gấp 2 lần ở những người hút thuốc lá, đặc biệt ở phụ nữ, nó còn là nguyên nhân của việc sảy thai, sinh non ở những sản phụ ĐTĐ. Rõ ràng, thuốc lá không chỉ gây nên những biến chứng nghiêm trọng trên bệnh nhân ĐTĐ mà còn làm tăng khả năng phát triển ĐTĐ ở người hút thuốc.
Làm thế nào để bỏ thuốc lá?
Trong mười năm gần đây, với sự nỗ lực của y tế cộng đồng và áp lực xã hội, số người hút thuốc đã giảm hơn trước. Tuy nhiên, ở những nước đang phát triển, tỷ lệ người hút thuốc lá vẫn rất cao, đòi hỏi những quốc gia này phải nỗ lực hơn nữa.
Một vài lời khuyên cho người cai thuốc: tốt nhất là không bao giờ hút thuốc lá dù trong bất kì hoàn cảnh nào để khỏi phải cai thuốc. Có nhiều phương pháp cai thuốc lá như: thông qua tư vấn tâm lý, giáo dục, chơi thể thao, hay dùng miếng dán, kẹo nicotin để thay thế (phương pháp này cần thận trọng khi có thai). Tuy nhiên, mấu chốt trong việc cai nghiện là người cai nghiện phải có quyết tâm cao, chỉ như vậy mới có thể cứu được những năm còn lại của cuộc đời họ. Bỏ thuốc không bao giờ là quá muộn.

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Đau răng làm tăng nguy cơ bị bệnh tiểu đường

>>Kịp thời điều trị chứng tiểu đêm nhiều ở người bệnh đái tháo đường
>>Chữa bệnh tiểu đường với mướp đắng

Các nhà khoa học Mỹ lại làm sửng sốt thế giới bởi một kết luận chết người: Bệnh sâu răng sẽ khiến cho con người có nguy cơ bị bệnh tiểu đường rất cao.

Dau rang lam tang nguy co bi benh tieu duong


Theo nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Mỹ, bệnh về răng có thể là nguyên nhân gây tiểu đường. Đặc biệt, nguy cơ này còn cao hơn ở những người mắc bệnh răng kinh niên. Đó là vì vi khuẩn có thể từ răng đi vào máu, gây ra phản ứng của hệ thống miễn dịch.






Các tế bào của hệ thống miễn dịch sẽ thải ra các protein có tên là cytokine, làm tổn thương các tế bào tuyến tuỵ, nơi sản sinh insulin. Hàm lượng insulin giảm sẽ dẫn đến bệnh tiểu đường.
Vi khuẩn gây bệnh sâu răng của những người đau răng theo chu kỳ rất dễ thâm nhập vào hệ thống tuần hoàn và tạo nên các phản ứng tiêu cực cho hệ thống miễn dịch của con người. Để chống lại nó, cơ thể sản xuất ra một protein kháng khuẩn có tên là protein cytokines (PC). PC tuy có khả năng diệt khuẩn sâu răng nhưng cũng làm phương hại rất lớn đến tuyến tuỵ, cơ quan duy nhất sản xuất ra insulin, chất điều hoà hàm lượng glucose có trong máu.
Những người có lượng cholesterol hay lipid bình thường nhưng mắc bệnh sâu răng sẽ rơi vào tình trạng mắc bệnh tiểu đường loại II theo chu kỳ do hàm lượng PC tăng cao đột ngột, huỷ hoại khả năng sản xuất của tuyến tuỵ.

Nhiễm trùng bàn chân - biến chứng nguy hiểm của tiểu đường


>> Khái Quát Chung Về Bệnh Tiểu Đường
>> Kịp thời điều trị chứng tiểu đêm nhiều ở người bệnh đái tháo đường
Nhiễm trùng bàn chân rất hay gặp ở bệnh nhân tiểu đường dạng 2 và có thể gây tàn phế nặng nề. Khoảng 50% trường hợp bị cắt cụt chân không phải do chấn thương có nguyên nhân từ biến chứng này.

Nhiem trung ban chan - bien chung nguy hiem cua tieu duong


Bàn chân tổn thương do tiểu đường có các biểu hiện sau:
- Giảm hoặc mất hoàn toàn cảm giác đau, bàn chân bị biến dạng, các ngón chân quặp lại, đầu xương cụp xuống, tư thế bàn chân không khớp với giày hoặc dép.
- Có các cục chai ở gót chân, phía ngoài cạnh ngón út hoặc phía trong cạnh ngón cái. Lưu lượng máu ở bàn chân bị tổn thương gia tăng (mạch nảy mạnh, khi nằm các tĩnh mạch nổi phồng lên).
- Loét lòng bàn chân, diễn tiến qua các giai đoạn sau:
+ Giảm cảm giác đau, giảm khả năng chịu lực.
+ Da vùng chịu sức ép dày lên, hình thành bọng nước tại các điểm chịu sức ép. Các bọng nước này sau đó bị viêm và nhiễm trùng. Viêm xâm lấn, phá hủy mô xung quanh, gây hoại tử và các vết loét nhiễm trùng.
+ Bàn chân có thể bị sưng phù do suy hệ tĩnh                    


 mạch và suy tim, làm nặng thêm hiện tượng viêm loét.
+ Đàn ông dễ bị loét chân hơn phụ nữ, có lẽ do phụ nữ thường chú ý săn sóc cơ thể hơn.
Chi phí cho điều trị biến chứng này rất cao. Ở Mỹ, số tiền dùng để điều trị nhiễm trùng bàn chân do tiểu đường lên tới 1,5 tỷ USD/năm. Ở Việt Nam, nhiều bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng đã tốn cả triệu đồng một ngày (chủ yếu là thuốc kháng sinh) mà vẫn không giữ nổi chân.
Các phương pháp điều trị chủ yếu bao gồm:
- Nội khoa: Dùng các thuốc giãn mạch, thuốc tăng cường mức độ di chuyển của ôxy vào trong mô, thuốc kháng sinh, thuốc chống đông máu trong lòng mạch, thuốc hạ huyết áp. Ngoài ra, phải bỏ thuốc lá, chống béo phì...
- Ngoại khoa: Gồm các phương pháp như làm cầu nối động mạch, tạo hình động mạch bằng can thiệp nội mạch, cắt lọc mô nhiễm trùng, cắt thần kinh giao cảm và cắt cụt chân (nếu các phương pháp khác thất bại). Ngoài ra, có thể cứu bàn chân bị loét bằng kỹ thuật ghép da. Việc thực hiện các phương pháp này rất công phu, đòi hỏi sự kiên trì ở cả bệnh nhân và bác sĩ vì phải mổ nhiều lần.
Trong các phương pháp điều trị ngoại khoa, cắt lọc mô nhiễm trùng là bước đầu tiên và rất quan trọng cho những bước điều trị tiếp sau. Nhờ cải tiến kỹ thuật cắt lọc mô nhiễm trùng, Bệnh viện Nhân dân Gia Định TP HCM đã giảm tỷ lệ cắt cụt chân từ 20% xuống còn 2-3%.
Tiễn sĩ Nguyễn Hoài Nam, Đại học Y Dược TP HCM, cho biết, khác với các chứng nhiễm trùng chân khác, bệnh nhân bị loét chân do tiểu đường không được ngâm chân vào nước sát trùng hoặc nước nóng vì 2 lý do: Da bàn chân bị ẩm sẽ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập; bệnh nhân có thể bị bỏng bởi nước nóng do bàn chân đã mất cảm giác, không phân biệt được nhiệt độ của nước.
Ngoài ra, người bệnh còn cần chú ý:
- Hoạt động thể lực đều đặn.
- Giữ gìn vệ sinh bàn chân, chỉ nên cắt móng chân sau khi tắm rửa (lúc móng còn mềm), cắt dứt khoát, không cắt sát da quá. Nếu móng chân mọc vào trong hoặc móng dày thì nên đến thợ.
- Đi khám bàn chân định kỳ 3-6 tháng/lần.
- Báo ngay cho bác sĩ những triệu chứng thiếu máu cục bộ ở bàn chân như: cảm giác kiến bò, da đổi màu, phù nề, phồng rộp, chấn thương hoặc có các cục chai.
Những bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao cần lưu ý:
- Tự quan sát bàn chân mỗi ngày. Nếu không tự làm được, có thể nhờ người khác giúp đỡ.
- Không đi giày chật quá hoặc rộng quá, không đi giày cao gót. Trước khi mang giày, nên kiểm tra xem có vật lạ bên trong hay không. Chỉ nên mang giày trong 2-3 giờ. Những người có cục chai hoặc biến dạng bàn chân phải dùng các loại giày đóng riêng. Việc chọn giày cũng phải căn cứ theo khí hậu và lối sống, ví dụ không nên đi giày cao su vào mùa nóng...
- Rửa chân kỹ hằng ngày, thay tất và đế lót. Sau khi rửa chân, nên lau kỹ các kẽ ngón (đặc biệt là giữa kẽ ngón 3-4 và 4-5) bằng khăn mềm. Nếu da bị khô, nên bôi kem trung tính (không được dùng các thuốc chữa chai da). Để tránh bỏng chân, không nên đi chân trần trên nền nóng, rửa chân bằng nước nóng hay hơ chân trên ngọn lửa.
                                                                                                    Việt Báo (Theo_VnExpress.net)

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Đèn ngủ giúp bảo vệ thị lực của bệnh nhân tiểu đường

>> Phòng tiểu đường không khó
 >>Bệnh tiểu đường thai kỳ – Khó phát hiện

Nghiên cứu mới của Anh cho thấy, việc để đèn ngủ ban đêm sẽ giúp ngăn ngừa bệnh lý võng mạc - nguyên nhân gây mù ở nhiều bệnh nhân tiểu đường type 2. Ánh sáng đèn xuyên qua da mắt nhắm nghiền sẽ ức chế khả năng thích nghi với bóng tối của mắt - thủ phạm gây giảm ôxy ở võng mạc.



Khoảng 17 triệu người Mỹ bị tiểu đường và 1/4 trong số này bị bệnh lý võng mạc. Bệnh xuất hiện khi những mạch máu nhỏ li ti của võng mạc (ở sau mắt) bị vỡ. Nguyên nhân của hiện tượng này còn chưa được làm rõ. Các nghiên cứu trước đó đã cho thấy, nồng độ ôxy ở võng mạc của bệnh nhân tiểu đường giảm khi mắt phải thích nghi với bóng tối.
Trong nghiên cứu tiến hành trên 7 bệnh nhân tiểu đường type 2 và 8 người bình thường, giáo sư Neville Drasdo và cộng sự tại Đại học Cardiff đưa ra bằng chứng cho thấy, nguyên nhân gây bệnh lý võng mạc chính lạ sự thiếu ôxy ở các lớp trong của võng mạc, xuất hiện khi trời tối. Theo các tác giả, việc kích thích liên tục mắt người bệnh bằng ánh sáng trong đêm sẽ giúp duy trì dòng chảy của máu qua võng mạc, làm mất đi tình trạng thiếu ôxy ở đây.
Bệnh lý võng mạc không có biểu hiện báo động sớm. Các mạch máu có thể bị xuất huyết và để lại dấu vết trên võng mạc. Hiện tượng xuất huyết có thể xảy ra nhiều lần, chủ yếu là vào ban đêm. Các vết này sẽ mất đi sau đó nhưng cũng có thể còn lại mãi, làm giảm thị lực của bệnh nhân.
Theo giáo sư Drasdo, việc dùng ánh sáng phải được duy trì thường xuyên vì bệnh lý võng mạc cần tới 20 năm để xuất hiện. Cũng chưa rõ tác dụng lâu dài của phương pháp này. Do nghiên cứu có quy mô quá nhỏ nên cần nhiều nghiên cứu mới trước khi có thể đưa ra lời khuyên cụ thể cho người bệnh. Nghiên cứu đăng trên tạp chí The Lancet sẽ ra ngày 29/6.
                                                                                                                              (Theo_VnExpress.net)

Bệnh nhân tiểu đường không nên dùng đồ ăn nấu quá chín


>>Những biến chứng nguy hiểm ở người bệnh tiểu đường
 >>Cá Diếc Tốt Cho Người Bệnh Tiểu Đường

 Những người mắc bệnh tiểu đường không nên ăn các món xào,nướng  mà thay vào đó là các món luộc sẽ có lợi hơn cho sức khỏe.




thit-nuong.jpg

Nguyên nhân là do khi được đun nấu lâu ở nhiệt độ cao, các thành phần trong thực phẩm (đường, protein, chất béo) làm sản sinh chất độc hại tên là AGE. Chất này có thể khiến hệ miễn dịch "nổi giận" và gây tổn hại cho mạch máu.
Đó là kết luận từ công trình nghiên cứu tiến hành trên 24 bệnh nhân bị tiểu đường của bác sĩ Helen Vlassara, chuyên gia về tiểu đường tại Đại học Y Mount Siani ở New York (Mỹ). Theo bà, từ nhiều năm nay, các bác sĩ đã lưu ý bệnh nhân tiểu đường phải hạn chế lượng đường và chất béo trong chế độ ăn. Tuy nhiên, họ lại bỏ qua thành phần AGE, thường tăng cao khi thực phẩm được đun nấu lâu ở nhiệt độ cao như khi rán hoặc nướng. Chế độ ăn lâu dài với nhiều AGE sẽ đặt hệ miễn dịch trong tình trạng thường xuyên bị nhiễm trùng nhẹ, với tổn thương ở các động mạch nhỏ và vừa. Điều này có thể gây bệnh tim và những rắc rối khác.
Nghiên cứu của bác sĩ Vlassara cho thấy, có thể làm giảm hàm lượng AGE trong thực phẩm nhờ cách nấu nướng. Theo bà, cách tốt nhất là đun nhanh thức ăn với nhiều nước, chẳng hạn luộc hoặc hấp đồ ăn trong thời gian ngắn nhất. Cũng có thể xào thịt nhưng cần thái thật mỏng và đảo nhanh với một chút dầu.
Theo bác sĩ Vlassara, một trong những nguồn AGE "dồi dào" nhất là món gà tây nấu theo kiểu truyền thống của Mỹ. Cà phê, cola và đồ uống có chocolate cũng chứa nhiều chất này. Một số đồ uống cola sẫm màu thường được thêm các sản phẩm caramen hóa, chứa rất nhiều AGE. Bà khuyên bệnh nhân tiểu đường nên dùng loại soda không màu và không đường thay cho các đồ uống sẫm màu.
Những nghiên cứu trên động vật trước đó cho thấy, hạ thấp hàm lượng AGE giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tim hoặc làm chậm sự khởi phát của bệnh. Tuy nhiên, giáo sư Eugene Barrett, Chủ tịch Hội tiểu đường Mỹ cho rằng, hiểu biết về tác dụng của AGE trên con người chưa nhiều và còn quá sớm để đưa ra kết luận rằng giảm AGE giúp hạn chế nguy cơ bệnh tim.

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

Ảnh hưởng của thời tiết nóng nực ngày hè với người bệnh tiểu đường

>> Chữa bệnh tiểu đường với mướp đắng
 >>Mối liên hệ giữa trầm cảm và bệnh tiểu đường 

Với người bị bệnh tiểu đường thì lưu ý có hai vấn đề thường gặp vào ngày hè, đó là ăn uống thất thường và thiếu nước, dẫn tới nhiều biến chứng, để lại hậu quả nặng nề cho bản thân cũng như gia đình.

Việc chăm sóc sức khỏe là một quá trình lâu dài và xuyên suốt hành trình sống của mỗi người. Nhưng với những người mắc bệnh mãn tính như tim mạch, tiểu đường… vốn được coi là “nhạy cảm” trước những tác động của các yếu tố khách và chủ quan – thì sự cẩn trọng trước tác động của những yếu tố xung quanh lại càng trở nên cần thiết. Thời tiết nắng nóng, thói quen sinh hoạt ngày hè ảnh hưởng không nhỏ đối với bệnh tiểu đường là một trong những vấn đề như thế.

benh-tieu-duong-va-thoi-tiet-nong-nuc
thời tiết nóng nực ảnh hưởng không nhỏ tới người bệnh tiểu đường

Thực tế vào mùa hè, thời tiết nóng bức, chúng ta dễ có tâm trạng mệt mỏi dễ tạo cảm giác “ngại ăn”, “ăn không ngon miệng” và tâm lý thường thấy là “ăn cho xong bữa”.

Từ việc ăn uống không đủ chất và thiếu điều độ sẽ dẫn đến hiện tượng hạ đường huyết. Hạ đường huyết quá mức có thể dẫn đến chết não. Với bệnh nhân tiểu đường có suy mạch vành thì hạ đường huyết cũng là một trong những yếu tố thuận lợi dẫn đến nhồi máu cơ tim.
Mặt khác, mùa hè là mùa của nhiều loại trái cây có hàm lượng đường lớn như nhãn, vải, quýt, vú sữa, hồng xiêm… Người bệnh đái tháo đường nếu ăn quá nhiều các loại hoa quả này sẽ khiến đường huyết tăng cao khó kiểm soát. Đường huyết tăng cao kéo dài hoặc tăng giảm thất thường dễ xẩy ra stress oxy hóa tế bào, trong đó có tế bào nội mạc mạch máu (lớp lót trong của mạch máu) bị hủy hoại, đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra biến chứng mãn tính ở người bệnh đái tháo đường.
Với điều kiện nhiệt độ và độ ẩm lý tưởng cho vi khuẩn phát triển trong mùa hè, biến chứng về nhiễm khuẩn cũng sẽ là nguy cơ không nhỏ và cần phải đề phòng cao…Bên cạnh đó, việc bổ sung nước không đầy đủ cũng khiến người mắc bệnh tiểu đường bị chứng huyết khối, tắc mạch hoặc gia tăng tình trạng suy thận…Nhất là khi người bệnh đang dùng kèm theo thuốc lợi tiểu và ức chế men chuyển.
Với những đặc trưng về thời tiết, tâm lý sinh hoạt ngày hè, chúng ta cần quan tâm thêm những yếu tố khác như tránh hoạt động nhiều dưới trời nắng, tránh khát nước, nên ăn nhiều trái cây tươi ít ngọt (dưa bở, dưa hấu, nho ta…) để cung cấp đầy đủ các chất điện giải cho cơ thể. Người bệnh nên vừa duy trì sử dụng thuốc theo đúng đơn của bác sĩ vừa đảm bảo những yếu tố sinh hoạt kể trên.

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Phòng tránh bệnh tiểu đường ở trẻ nhỏ

Trước thực trạng số lượng trẻ em ở Mỹ bị mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 đã tăng gấp đôi từ năm 2002-2005, đặc biệt là ở trẻ vị thành niên, các nhà khoa học Mỹ đã chỉ ra một số biện pháp mà các bậc cha mẹ cần thực hiện tốt để giúp con em mình phòng tránh căn bệnh này.
Cũng như người trưởng thành, lý do mắc bệnh tiểu đường ở trẻ có thể liên quan đến gen và môi trường sống. Những triệu chứng phổ biến cũng giống người lớn như khát nước, giảm cân, thường xuyên đi tiểu, đau bụng, đau đầu. Các nhà khoa học cho rằng bố mẹ cần hướng dẫn cho trẻ em thường xuyên tập thể dục.

Một nghiên cứu gần đây cho thấy tập thể dục khoảng 30 phút mỗi ngày và giảm 5-10% trọng lượng cơ thể có tác dụng tốt hơn trong việc sử dụng thuốc điều trị bệnh tiểu đường týp 2. Các hoạt động thể chất giúp kiểm soát lượng đường gluco trong máu, trọng lượng và huyết áp - những yếu tố có thể dẫn đến nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.
Trẻ em rất dễ bị tác động trước vô số quảng cáo về thức ăn vặt trên truyền hình do đó cha mẹ phải quan tâm hướng dẫn con
mình nên ăn những thức ăn lành mạnh và tốt cho sức khỏe.

Một cách khác, phụ huynh cần lưu ý đặc biệt về thông tin dinh dưỡng gắn trên các sản phẩm ăn được. Đây là lời khuyên hữu ích từ chính các nhà dinh dưỡng học về việc làm thế nào để phát hiện các chất béo có hại trong các loại thức ăn. Tiếp đó nếu trẻ em bị thừa cân cần có sự giúp đỡ của cha mẹ và điều cuối cùng là không bao giờ có kết quả ngay lập tức mà phải có thời gian.

Người tiểu đường ăn gì khi ốm yếu?

>> Món ngon hàng ngày cho người bi tiểu đường-part1 
>>Món ngon hàng ngày cho người bi tiểu đường-part2 

benhtieuduongnow-Khi bạn bị cảm lạnh hoặc cúm, lượng đường huyết thường bị tăng lên nhiều. Do vậy, bạn phải thử đường máu nhiều lần/ngày. Bạn cũng cần phải uống đủ nước và nạp đủ năng lượng để vượt qua những ngày khó khăn đó. Chế độ ăn hợp lý sẽ giúp bạn nhanh chóng hồi phục và giữ cho đường máu tăng không quá cao hoặc bị hạ quá thấp.

 Khi ốm yếu, người bênh đái tháo đường vẫn cần được cung cấp đầy đủ năng lượng.
Khi bị ốm vẫn cần đáp ứng nhu cầu của cơ thể
Trong những ngày ốm yếu, bạn cố gắng giữ cho chế độ ăn gần giống những ngày bình thường nhất. Nếu như dạ dày chỉ có cảm giác đầy, bạn vẫn có thể ăn được như mọi ngày với các thực phẩm như cháo, súp, bánh quy... Nếu những thức ăn này vẫn khó vào, bạn có thể thử nước quả, nước giải khát ít ngọt, sữa chua... Thông thường bạn vẫn cần ăn chừng 30-40g chất bột - đường sau mỗi 3-4 giờ vào những ngày ốm này. Trường hợp không biết rõ loại thức ăn và khối lượng ăn, hãy hỏi bác sĩ của bạn. Một số loại thuốc trị cảm cúm và ho có chứa đường trong đó: đọc kỹ thông tin trước khi uống, giảm trừ lượng bột - đường được phép ăn. Nước uống cũng cần được cung cấp đủ, nếu bị sốt hoặc nôn, phải uống nhiều hơn mọi ngày. Nếu như đường máu tăng cao nhiều, bạn phải xem lại chế độ ăn và thuốc đang dùng. Hỏi bác sĩ để có chỉ dẫn trong trường hợp cụ thể này.
Khi nào người bệnh đái tháo đường ốm yếu cần đến bệnh viện?
Khi lâm vào các tình huống sau, bạn nhất định phải trao đổi với bác sĩ, thậm chí đi nằm viện:
- Tình trạng ốm yếu hoặc sốt sau vài ngày không tiến triển khá hơn.
- Nôn hoặc đi ngoài sau 6 giờ không thuyên giảm.
- Có nhiều thể ceton trong nước tiểu.
- Nếu đang tiêm insulin: đường máu >15mmol/l (hoặc>240mg/dl), mặc dù đã tiêm thêm insulin theo chỉ định của bác sĩ.
- Nếu bạn chỉ dùng thuốc viên hạ đường huyết: đường máu cũng tăng trên 15mmol/l (hoặc >240mg/dl) suốt 24 giờ.
Có các biểu hiện mất nước nguy hiểm: khó thở, hơi thở có mùi hoa quả chín, đau ngực, khô nứt môi và lưỡi, tiểu rất ít.
Ăn cháo ngày ốm: dễ làm và bổ dưỡng.
Trong những ngày ốm yếu, nếu không ăn được đồ ăn thông thường, có thể nấu cháo theo công thức sau cho vào phích ủ ấm ăn dần trong ngày:
Thực đơn nấu cháo: (xem bảng)

 
Ngoài ra, nếu ăn thêm các thực phẩm khác như sữa, nước cam... có thể ước lượng số calo và lượng đường như sau: - 200ml sữa bò tươi: + 150 kcal (10g glucid; 9g lipid; 8g protid).
- 200ml nước cam vắt không đường: + 80kcal (20g glucid).
- Truyền 500ml dịch glucose 5%: + 100kcal (25g glucid).
Truyền 500ml dịch glucose 10%: + 200kcal (50g glucid).     

Nơi cư trú có thể làm giảm nguy cơ mắc tiểu đường

>> 16 tín hiệu cảnh báo nguy cơ bị bệnh tiểu đường
 >>Mối liên hệ giữa trầm cảm và bệnh tiểu đường 

Bạn có thể giảm mạnh nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường týp 2 bằng cách lựa chọn nơi cư trú. TS. Amy Auchi
 
Nhà đẹp của các minh tinh Hollywood

Trong độ tuổi từ 45 - 84 tuổi đang sống trong những khu phố tại Forsyth County, Nam Carolina, Baltimore, Maryland và thành phố New York. Những người tham gia trải qua các cuộc kiểm tra sức khỏe cơ bản trong suốt những năm từ 2000 - 2002. Kết quả là, những người sống trong những khu phố "lành mạnh", nơi có hè phố thoáng đãng, nhiều công viên và có thể dễ dàng tiếp cận được với trái cây và rau quả tươi, cùng với các phương tiện vận tải công cộng an toàn giảm tới 38% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường týp 2 hơn là những người sống ở những khu dân cư kém lành mạnh.
Theo tác giả nghiên cứu, việc thay đổi môi trường sống của chúng ta đồng nghĩa với việc lựa chọn hành vi, lối sống lành mạnh có thể là một bước quan trọng trong việc kìm hãm và đảo ngược các dịch bệnh.

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Bệnh tiểu đường: Nên ăn gạo trắng hay gạo lức?

>> Chữa bệnh tiểu đường với mướp đắng
 >>Hạt Methi - Cây cỏ trị bệnh tiểu đường 

benhtieuduongnow- Một chuyên gia người Mỹ cho biết, ăn gạo nâu và bánh mì thay cho gạo trắng có thể giảm một phần ba nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.
Gạo trắng có hàm lượng glycemic cao hơn gạo nâu
Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Harvard nói, gạo trắng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường vì làm tăng hàm lượng đường trong máu.

Gạo lức và các loại thực phẩm ngũ cốc khác là lựa chọn tốt hơn cho sức khỏe của người tiêu dùng vì làm giảm dần lượng đường glucose trong máu.



Hơn 70% số gạo tiêu thụ tại Anh và Mỹ là gạo trắng. Nghiên cứu trên 200.000 người Mỹ cho thấy, những người ăn gạo trắng đều dẫn đến bệnh tiểu đường loại 2.
Sau khi đã loại bỏ các yếu tố dẫn đến bệnh tiểu đường và tuổi tác, các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận: Những người ăn nhiều hơn 150g gạo trắng mỗi tuần sẽ có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường nhiều hơn những người ăn gạo lức trong một tháng khoảng 17%. Mặc dù chỉ 2% số người trong nghiên cứu sử dụng gạo trắng nhưng kết quả này rất quan trọng.
Nhưng kết quả nghiên cứu trên những người ăn gạo lức lại đưa ra kết quả ngược lại, những người này không có dấu hiệu của bệnh tiểu đường loại 2.
Các nhà nghiên cứu giải thích về sự khác biệt giữa hai loại gạo, giống như nhiều loại ngũ cốc khác, gạo lức có nhiều chất xơ và làm giảm năng lượng dần dần. Trong khi đó, chất cám và các vi khuẩn có lợi trong gạo trắng đã bị loại bỏ trong quá trình xay xát.
Điều này khiến cho gạo trắng có tỉ lệ Glycemic (GI) cao hơn, đây là nhân tố làm tăng hàm lượng đường trong máu.
Cách tốt nhất để ngăn chặn bệnh tiểu đường loại 2 là tập thể dục đều đặn, duy trì chế độ ăn không có nhiều chất béo và đường, ăn thêm nhiều hoa quả.

Rau cải xong trị bệnh tiểu đường


>> Tác Dụng Của Hạt Methi với người bệnh tiểu đường

>> Chuối hột - Vị thuốc chữa bệnh tiểu đường

benhtieuduongnow-Cải xoong được dùng để nấu canh và là món ăn quen thuộc của nhiều gia đình. Với Đông y, cải xoong còn là vị thuốc chữa được một số bệnh trong đó có bệnh tiểu đường.

Cải xoong có chứa nhiều sắt, iod giúp cơ thể chống được bệnh còi xương, béo phì, bệnh ngoài da, xơ cứng động mạch ở người cao tuổi; chống oxi hóa, chống độc, tăng sức đề kháng cho cơ thể, giúp cơ thể đào thải chất độc; thông gan mật, lợi tiểu, thanh lọc nhiệt, khí ở phổi và dạ dày, giải nhiệt, cầm máu và chữa bệnh phổi.

Cải xong có chứa nhiều sắt, iod giúp cơ thể chống được bệnh còi xương, béo phì...
Trị chứng viêm phế quản: dùng 100 - 200g cải xoong, 50g tía tô, 2 - 3 lát gừng tươi. Đem tất cả cho vào siêu đất, đổ ba bát nước (bát ăn cơm) sắc còn một bát, chia làm ba phần, uống ba lần, mỗi lần một phần, cách nhau ba giờ.

Giải nhiệt trừ đờm: dùng rau cải xoong, la hán quả nấu thành canh với thịt lợn nạc để ăn.
Thanh nhiệt, tăng sức đề kháng cho cơ thể: khi mắc các chứng nóng trong người gây lở mồm, lở lưỡi, lở môi, chân răng bị chảy máu, niêm mạc mũi khô, mọc mụn nhỏ trong khoang mũi thì lấy cải xoong nấu canh với cà rốt để ăn, rất tốt.

Trị chứng tiểu đường: khi mắc bệnh tiểu đường,người bệnh nên dùng món thuốc gồm rau cải xoong, cà rốt, cải bắp, củ cải, cần tây, tía tô, mỗi vị 10 - 15g giã nát hoặc ép lấy nước cốt uống. Kiên trì điều trị sẽ cho kết quả tốt.

Trị chứng lao phổi: người mắc bệnh lao phổi: ngoài dùng thuốc tây y để điều trị thì có thể kết hợp dùng thêm bài thuốc gồm: 150 - 200g rau cải xoong cùng một ít vỏ quýt phơi khô nấu nước khoảng 4 - 5 giờ, uống khi thuốc còn ấm để làm sạch máu và giải độc cho phổi.

Uống mật ong hàng ngày có bị tiểu đường?

>> Chuối hột - Vị thuốc chữa bệnh tiểu đường
 >>Người bệnh tiểu đường không nên ăn gì? 

Cần nhấn mạnh là với người bình thường (không mắc bệnh tiểu đường) thì  hàng ngày ăn mật ong rất tốt cho cơ thể, có tác dụng bồi bổ cơ thể và phòng ngừa được nhiều bệnh tật. Uống thường xuyên, liên tục cũng không thể dẫn tới bệnh tiểu đường được.

mat ong voi nguoi benh tieu duong
Uống thường xuyên, liên tục cũng không thể dẫn tới bệnh tiểu đường được.

Thông thường mật ong chứa khoảng 80% đường fructoza, glucoza, mantoza, chứa nhiều axit amin, các khoáng vi lượng và enzym... Theo y học cổ truyền, mật ong có tác dụng ích khí, nhuận táo, bổ dưỡng, chống mệt mỏi, giảm đau, giải độc. Người bình thường dùng tốt, chỉ kiêng khi có đờm nóng, bụng trướng, ỉa chảy.

Với người bình thường, hàng ngày ăn một lượng mật ong thích hợp (30 - 50g) giúp cơ thể khoẻ mạnh, da dẻ hồng hào. Mật ong trộn với bột tam thất ăn mỗi bữa một chén con (50g) sẽ giúp phục hồi sức khoẻ sau khi ốm dậy hoặc sau phẫu thuật.

Nếu bị cúm chỉ cần uống một cốc nước chanh nóng có pha thêm mật ong, bạn sẽ thấy dễ chịu ngay. Nếu bị ho, bạn lấy một quả chanh tươi khía ra rồi tẩm mật ong vào, sau đó cắt chanh ra ngậm, bạn sẽ thấy hiệu quả tuyệt vời.

Nếu bị tiểu đường là bệnh mạn tính do rối loạn chuyển hoá glucoza, làm đường huyết tăng và đái ra glucoza mà nguyên nhân chủ yếu là do tuyến tuỵ bị hư suy, không tiết hoặc tiết không đủ insulin, trong trường hợp này thì không nên ăn mật ong hàng ngày.

Chế độ ăn uống, kiêng kị cho người bị mắc bệnh tiểu đường

 benhtieuduongnow- Tiểu đường là một bệnh nội tiết do trong cơ thể thiếu hoặc không có nội tiết tố insulin, còn được gọi là bệnh đái tháo đường.Chế độ ăn kiêng giữ một vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh tiểu đường. Có thể điều trị bằng chế độ ăn như tiểu đường (đái đường) nhẹ, tiểu đường  tiềm tàng) hoặc kết hợp với các thuốc hạ đường huyết đối với các thể tiểu đường (đái đường) mức độ trung bình và nặng.


 
    Ở bệnh nhân cân nặng bình thường (tiểu đường phụ thuộc Insulin hay không phụ thuộc Insulin), chế độ ăn kiêng phải được chuẩn về chất lượng (hạn chế gluxit và lipit) và cố định về số lượng.
Chế độ ăn kiêng cần được điều chỉnh theo từng bệnh nhân và theo mục tiêu điều trị của bác sĩ.
Trong những ngày đầu hay trong những tuần đầu tiên, thức ăn phải được cân để sau đó bệnh nhân biết cách ước tính trọng lượng của các loại thực phẩm một cách tương đối.


Chế độ ăn đáp ứng nhu cầu năng lượng:  
Nhu cầu tính theo thể trạng và tính chất lao động
      Thể trạng 
Lao động nhẹ
Lao động vừa
Lao động nặng
Gầy 
35 Kcal/kg  
40 Kcal/kg  
45 Kcal/kg 
Trung bình  
30 Kcal/kg  
35 Kcal/kg  
40 Kcal/kg 
Mập 
25 Kcal/kg  
30 Kcal/kg  
35 Kcal/kg 
 
Chế độ ăn phải đảm bảo đầy đủ lượng protit, lipit cần thiết cho cơ thể trong đó lượng gluxit chiếm 50% lượng calo chung của khẩu phần, protid chiếm 15%, lipit 35%.

Một số áp dụng trên thực tế:

- Thực phẩm cung cấp gluxit : Bánh mì 40g, gạo 25g, mì sợi 30g, khoai tây 100g, khoai mì tươi 60g, đậu 40g, 1 trái cam vừa, 1 trái chuối vừa, 1 trái táo, 100g nho, 250g dâu tây, 1 trái thơm, 1 trái xoài vừa đều tương đương với 20g gluxit.
- Thực phẩm cung cấp protit: 100g thịt nạc tương đương với 15-18g protit
- Thực phẩm cung cấp lipit: 100g dầu ăn tương đương với 90-100g lipit. 
1. Đối với thức ăn chứa tinh bột:
Nên ăn các loại bánh mì không pha trộn với phụ gia như bánh mì đen, gạo lứt, khoai tây, khoai sọ... lượng tinh bột đưa vào cơ thể người tiểu đường nên bằng khoảng 50-60% người thường. Sử dụng thường xuyên các loại ngũ cốc thô, chà xát ít vì lớp vỏ có chứa nhiều Vitamin và khoáng chất có lợi cho sức khỏe. Phương thức chế biến chủ yếu là luộc, nướng hoặc hầm chứ không nên chiên xào.

2. Đối với chất đạm:
Hạn chế tối đa thịt hộp, patê, xúc xích... thay vào đó hãy ăn cá, trứng sữa, các sản phẩm chế biến từ sữa, đậu... nên ưu tiên cá mòi và cá chích vì trong hai loại cá này có chứa chất béo có lợi cho việc chống lại bệnh tim mạch và ung thư. Người tiểu đường (đái đường) có thể ăn các loại thịt lợn, thịt bò đã lấy sạch mỡ. Tránh tuyệt đối da gà, da vịt bởi nó có chứa rất nhiều cholesterol. Cũng như thực phẩm chứa tinh bột, nên chọn cách chế biến là luộc, kho, nướng hơn là chiên.

3. Đối với chất béo:
Phải hết sức hạn chế mỡ, các bác sĩ khuyến cáo lượng cholesteron đưa vào phải dưới 300mg mỗi ngày và lượng mỡ bão hòa phải thay bằng các loại dầu thực vật như dầu đậu nành, dầu olive, dầu mè

4. Rau, trái cây tươi:
Một ngày bệnh nhân tiểu đường (đái đường) nên ăn khoảng 400 gram rau và trái cây tươi, rau quả tươi vừa có tác dụng chống lão hóa, vừa là thức ăn bổ sung vitamin, muối khoáng tốt nhất. Nên ăn cả xác hơn là ép lấy nước uống, chất xơ ở rau quả là thành phần quan trọng làm giảm đường, làm chậm hấp thu đường và đỡ tăng đường sau khi ăn. Tuy nhiên, không phải loại trái cây nào cũng tốt, người mắc bệnh tiểu đường  phải tránh các loại trái cây ngọt như nho, xoài, na, nhãn...

5. Chất ngọt
Chất ngọt là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh đái tháo đường, nó làm trầm trọng thêm quá trình bệnh lý, tăng các biến chứng nặng nề của bệnh. Lời khuyên của bác sĩ là tránh xa tuyệt đối các loại bánh kẹo, nước ngọt có ga, rượu... Bệnh nhân tiểu đường  nên sử dụng các chất ngọt nhân tạo có thể thay đường trong nước uống như Aspartam và sacharine vừa giúp làm giảm lượng đường ăn vào mà vẫn giữ được ngon miệng.
      Giữ vững thành phần và thời gian ăn là quan trọng, kết hợp với thể dục thể thao thường xuyên chính là phương pháp điều trị bệnh hiệu quả nhất. Tuy nhiên, chế độ ăn cụ thể phải dựa trên từng bệnh nhân, cân nặng, lượng đường trong máu, bệnh đã có các biến chứng hay chưa. Do vậy cần tham khảo ý kiến của bác sĩ đang theo dõi và điều trị.

Ăn kiêng như thế nào?

 
-Thực phẩm cấm: Đường, mía, tất cả các loại sữa chế biến, cà phê, kẹo, đá chanh, trái cây đóng hộp, nước quả ép, kẹo, mứt, chè, mỡ.

 
-Thực phẩm hạn chế: Cơm, mì xào, hủ tiếu, bánh canh, bánh mì, các loại khoai ( khoai lang, khoai mì...), bánh bích qui, trái cây ngọt.

 -Thực phẩm không hạn chế: Thịt, tôm, cá, cua, mắm, rau, tất cả các loại đậu.

Các thực phẩm như trái cây (nhất là lê, táo), rau, đậu, ngũ cốc có thể cung cấp cho cơ thể một lượng đường chậm (tức đường phải qua quá trình tiêu hóa mới trở thành đường hấp thu vào cơ thể) điều đó sẽ giúp cho lượng đường trong máu không quá cao hoặc quá thấp đồng thời cung cấp chất xơ có ích và chất khoáng chứa vcom kiểm soát lượng đường trong máu.

Ở bệnh nhân tiểu đường, đường huyết thường tăng cao sau bữa ăn. Vì thế nên cho bệnh nhân ăn nhiều lần và phân bố lượng calo mỗi bữa cho thích hợp.

Nếu cần: - 1200-1600 Kcalo/ngày thì nên chia ba bữa theo tỉ lệ 1/3 - 1/3 - 1/3
-  2000-2500 Kcalo/ngày thì nên chia bốn bữa theo tỉ lệ 2/7 - 2/7 - 2/7 - 1/7
-  trên 2500 Kcalo/ngày thì nên chia năm bữa theo tỉ lệ 2/9 - 2/9 - 2/9 - 2/9 - 1/9

Trường hợp đang dùng thuốc hạ đường huyết thì nên ăn trước khi ngủ hay thêm bữa vào những bữa ăn chính.

Các thực phẩm giàu chất xơ sẽ làm giảm đỉnh cao đường huyết sau khi ăn và có thể kéo dài sự hấp thu của chất đường. Chất xơ cũng còn có tác dụng giữ nước, hấp thu axit mật, thường có trong cám ngũ cốc, khoai tây, rau xanh, trái cây nhất là các loại họ đậu.

Vì thế người ta khuyên nên ăn gạo không chà kỹ quá. Nên hạn chế rượu vì rượu có thể thúc đẩy hạ đường huyết trên bệnh nhân đang điều trị với thuốc hạ đường huyết.